Ý Nghĩa Của Duyên Khởi Và Học Thuyết Mười Hai Nhân Duyên

ý nghĩa của duyên khởi và học thuyết mười hai nhân duyên

Mười hai nhân duyên là một ứng dụng tuyệt vời về cách nền tảng Duyên khởi hoạt động trong Phật giáo thời kỳ đầu. Đây không phải là đường dẫn tuyến tính mà là một chu kỳ, trong đó tất cả liên kết đều được kết nối với các liên kết khác. Thoát khỏi luân hồi có thể được bắt đầu ở bất kỳ liên kết nào trong chuỗi, vì khi một trong các liên kết bị hỏng, nó sẽ không còn là một chuỗi nữa và chu kỳ tái sinh sẽ bị phá vỡ.

Trung tâm của triết học Phật giáo là giáo lý Duyên khởi hay còn được gọi là “sự phát sinh phụ thuộc”. Về bản chất, giáo lý này nói rằng, tất cả mọi thứ đều xảy ra thông qua nguyên nhân, kết quả và sự phụ thuộc lẫn nhau. Không có sự vật-hiện tượng, dù là bên ngoài hay bên trong, xảy ra như là một phản ứng mà không xuất phát từ nguyên nhân, và tất cả các sự vật-hiện tượng sẽ lần lượt trải qua các điều kiện khác để dẫn đến kết quả. Không có nguyên nhân đầu tiên cũng như không có kết quả cuối cùng.

Phật giáo thời kỳ đầu đã liệt kê các loại hay các liên kết tạo thành chu kỳ tái sinh, vòng tròn vô tận của sự không hài lòng tạo nên cuộc sống không được khai sáng. Thoát khỏi vòng luân hồi và đạt được giác ngộ là kết quả của việc phá vỡ các liên kết này.

Các trường phái khác nhau của Phật giáo giải thích mối liên hệ giữa các yếu tố phụ thuộc khác nhau, đôi khi là theo nghĩa đen và đôi khi ẩn dụ, thậm chí trong cùng một trường học, các giáo viên khác nhau sẽ có các phương pháp giảng dạy khác nhau. Đây là những khái niệm khó nắm bắt, vì chúng ta đang cố gắng hiểu lời dạy tuyệt vời này từ góc nhìn của một người chưa giác ngộ.

Duyên Khởi Là Gì?

Duyên khởi (Pratītyasamutpāda – Paticca Samuppada) có nghĩa là “phát sinh phụ thuộc”, “điều kiện phát sinh” hay “chuỗi nhân quả”, đây là nền tảng cho lời dạy của Ðức Phật về quá trình sinh-tử xuất hiện trong kinh điển của hai trường phái Phật giáo Nguyên Thủy và Đại Thừa. Duyên khởi là một trong những học thuyết làm sáng tỏ chân lý cuối cùng trong đạo Phật.

Cụ thể, đó là một giáo lý đặc biệt của Phật giáo liên quan đến sự hình thành, biến đổi và hoại diệt của các sự vật hiện tượng. Những thay đổi do nghiệp báo, những thăng trầm của cuộc đời, tất cả đều do nguyên nhân trực tiếp (hetu) và các nguyên nhân gián tiếp (pratyaya).

Đức Phật đã từng nói: “Những người cảm nhận được nguồn gốc phụ thuộc sẽ nhận thức được pháp, những người cảm nhận được pháp sẽ cảm nhận được nguồn gốc phụ thuộc” (Saṃyutta Nikāya [Samyutta 22, 87]).

Giáo lý Duyên khởi nói rằng “Bởi vì điều này tồn tại, điều đó nảy sinh. Bởi vì điều này không tồn tại, điều đó không xảy ra.”

Tất cả pháp (dharmas) xuất hiện tùy thuộc vào pháp khác: “Nếu điều này tồn tại, thì tồn tại, nếu điều này chấm dứt tồn tại, điều đó cũng không còn tồn tại.” Đây là một giáo huấn mang tính ứng dụng cao, được áp dụng cho đau khổ và con đường chấm dứt đau khổ.

Một ứng dụng nổi tiếng về nguồn gốc phụ thuộc là “Mười hai nhân duyên” hoặc “12 liên kết phụ thuộc lẫn nhau”, trong đó mô tả một chuỗi các nguyên nhân dẫn đến sự tái sinh vô tận của một người. Bằng cách phá vỡ chuỗi, giải phóng khỏi chu kỳ tái sinh mới có thể đạt được.

Trong trường phái Gelugpa Tây Tạng, Duyên khởi bổ sung cho khái niệm “Tánh không“, có nghĩa là không có pháp nào có sự tồn tại của riêng nó, và không có “điều đó” như “chân lý cuối cùng” hay “thực tại tối thượng.”

Nói tóm lại, tất cả những lời dạy của Đức Phật có thể được xem là dựa trên Luật Duyên khởi. Và Duyên khởi cũng có thể kết nối với các triết học Phật giáo khác, chẳng hạn như Pháp giới (Dharmadhātu), tuyên bố rằng tất cả chúng sinh tạo ra mình và thậm chí cả vũ trụ cũng tự tạo ra. Pháp giới đại diện cho vũ trụ như là sự tương quan phổ quát, phụ thuộc lẫn nhau, cùng có nguồn gốc, và không có gì tồn tại một cách độc lập.

Ý Nghĩa Của Mười Hai Nhân Duyên

Mười hai nhân duyên hay thập nhị nhân duyên (12 nidanas) là chuỗi liên kết các điều kiện giải thích tại sao một người phải tái sinh vô tận trong vòng luân hồi.

Từ quan điểm tôn giáo, 2 mắc xích quan trọng nhất là vô minh và tham ái, vì đây là hai điểm mà ở đó con người có thể có ý thức hành động để phá vỡ chuỗi nhân quả này và thoát khỏi vòng luân hồi.

1. Vô minh (Avidya)

liên kết vô minh trong học thuyết mười hai nhân duyên của duyên khởi

Liên kết đầu tiên là Vô minh hay sự thiếu hiểu biết, và nó được đại diện bởi một người mù trong “Bánh Xe Của Sự Sống” (Bhavachakra).

Sự thiếu hiểu biết ở đây không có nghĩa là thiếu hụt kiến thức thông thường, mà đúng hơn là nhận thức sai lầm về bản chất thật của thực tại, do đó, con người “mù quáng” trong việc tìm kiếm hạnh phúc đích thực.

Chúng ta có thể nói Vô minh “được tô màu bởi cảm xúc”, một hình thức chấp trước, ác cảm hoặc ghen tuông…Tấm màn Vô minh không được dệt từ cảm xúc là rất tinh tế, và đó sẽ là tấm màn cuối cùng được loại bỏ để đạt được Niết bàn.

Trong Phật giáo, “Vô minh” thường đề cập đến sự thiếu hiểu biết về Tứ Diệu Ðế – cuộc sống là khổ đau (không thỏa mãn, căng thẳng). Hoặc sự thiếu hiểu biết về Vô ngã (anatman). Học thuyết giảng rằng, không có “cái tôi” theo ý nghĩa của một thể vĩnh viễn, không thể tách rời, tự trị trong một sự tồn tại cá nhân. Cái chúng ta gọi là bản ngã chỉ là những biểu hiện tạm thời của ngũ uẩn.

2. Hành (Samskara)

liên kết hành trong học thuyết mười hai nhân duyên của duyên khởi

Liên kết thứ 2 trong mười hai nhân duyên được gọi là Hành, các “hành động tự nguyện” do vô minh tạo ra. Điều này được thể hiện bởi một người thợ làm gốm. Các hành động tốt sẽ tạo ra bình gốm tốt, hành động xấu sẽ tạo ra bình gốm xấu và gốm thì có thể phá vỡ.

Chúng ta cũng có thể gọi Hành là “Sự hình thành tâm linh.” Những sự hình thành tinh thần này có thể là tốt, xấu hoặc trung tính. Người ta nói rằng, cảnh vật bị chi phối bởi tâm, cảnh giới Ngạ quỷ hình thành bởi lòng tham, và địa ngục bởi sự tức giận.

Bởi vì chúng ta không hiểu sự thật, chúng ta có những xung lực dẫn đến những “hành động tự nguyện” tiếp nối chúng ta trên con đường luân hồi, và kết thành hạt giống nghiệp tạo điều kiện cho liên kết thứ 3 xuất hiện.


Trong quá trình tái sinh, Hành đồng nghĩa với Nghiệp. Sự hình thành nghiệp báo (đặc biệt là ý tưởng sâu xa về việc có một “Bản ngã”, hoạt động của cơ thể, ngôn ngữ và trí tuệ, cũng như các khuynh hướng cá nhân) là những yếu tố quan trọng trong việc hình thành nên một nhân cách (giống như bình gốm, thay đổi theo thời gian). Các hoạt động này hình thành nên Thức tái sinh.

3. Thức (Vijnana)

liên kết thức trong thuyết 12 nhân duyên của đức phật

Mối liên kết thứ ba trong chuỗi 12 nhân duyên là Thức. Cái mà chúng ta gọi là thức, “luồng ý thức” hay “dòng tư tưởng” là kết quả của những tiềm năng nghiệp báo mà chúng ta đã tạo ra.

Đó là một cánh đồng mà ở đó, chúng ta trồng một hạt giống tiềm ẩn trong một thời gian nhất định, và khi gặp điều kiện thuận lợi hạt giống này sẽ chín muồi. Luật nhân quả hoạt động theo cách này.

Khi bạn làm điều xấu, bạn sẽ không gặp những hậu quả ngay lập tức, bạn sẽ không rơi vào địa ngục ngay lập tức! Nhưng hạt bất thiện này, nghiệp chướng này đã được trồng và nó sẽ vẫn ở đó. Các trạng thái tiêu cực của tâm, chẳng hạn như tức giận, ghen tuông hoặc những cảm xúc tiêu cực khác cũng giống như nước, ánh nắng, phân bón giúp hạt giống bạn đã gieo trưởng thành và ra quả.

Vì vậy, trong Thức, tất cả tiềm năng đều được bảo quản – các hạt giống tốt, xấu và trung lập mà bạn tạo ra.

Trong “Bánh Xe Của Sự Sống”, Thức được đại diện bởi một con khỉ. Một con khỉ nhảy không suy nghĩ từ chổ này sang chổ khác, dễ bị cám dỗ và phân tâm bởi cảm giác. Năng lượng khỉ kéo chúng ta vào cạm bẫy luân hồi và tránh xa lời dạy của Phật.


Liên kết thứ ba là Thức tái sinh, đó là khoảnh khắc đầu tiên của ý thức trong cuộc sống này. Vì sự thiếu hiểu biết tạo điều kiện cho hạt giống nghiệp của kiếp trước hình thành, thức tái sanh là sự nảy mầm của hạt giống đó – một mối quan hệ có tính chất nguyên nhân và kết quả.

4. Danh Sắc (Nama-Rupa)

liên kết thứ 4 trong học thuyết 12 nhân duyên là danh sắc

Một khi các hạt nghiệp báo được gộp vào Thức, chúng sẽ cho ra kết quả gọi là Danh và Sắc. Một khi những nguyên nhân mà chúng ta đã tạo ra đã đưa chúng ta đến một nơi tái sinh thì chúng ta sẽ có cơ thể.

Ngũ uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Chúng ta sẽ có ý thức về “Cái tôi” trên cơ sở sự tổng hợp này. Chúng ta có thể nói rằng “Tôi hiện hữu, tôi, đây là tên của tôi, tôi sống ở đây trong nhà của tôi”.

Danh-Sắc là khoảnh khắc khi Thân và Tâm kết hợp. Nó đại diện cho sự liên kết tạm thời của ngũ uẩn để tạo thành ảo tưởng về một sự tồn tại độc lập, cá nhân.

Trong “Bánh Xe Của Sự Sống”, Danh Sắc được đại diện bởi 2 người trên thuyền đi qua luân hồi. Đây là sự xuất hiện của một hình thức có thể được đặt tên.

Hai người đàn ông trên một chiếc thuyền, “Sắc” đề cập đến thành phần vật chất của một người (thân thể), và “Danh” đối với các thành phần phi vật chất (cảm xúc, ý thức). Cả hai yếu tố này tồn tại trong một cá tính, giống như hai người đàn ông riêng biệt đều ở trên thuyền. Đối với Phật giáo, sai lầm khi nghĩ rằng Danh và Sắc là những thành phần bất biến của một người trong suốt quá trình sống.


Bởi vì vô minh tạo ra sự hình thành của hạt giống nghiệp. Và vì hạt giống nghiệp phát sinh ra thức tái sinh, khởi đầu của cuộc sống này. Bởi vì khoảnh khắc đầu tiên của ý thức trong cuộc sống này nảy sinh toàn bộ các hiện tượng về thân-tâm, tất cả các yếu tố của vật chất, tất cả các yếu tố của tâm. Đó là trong quá trình phát triển phôi thai trước khi sinh.

5. Lục căn (Sadayatana)

liên kết lục căn trong thuyết mười hai nhân duyên của duyên khởi

Đến đây thì chúng ta có thể thấy ngũ uẩn được tạo ra như thế nào, nhưng chúng không có cơ hội để tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Các giác quan có ở đó nhưng ý thức tương ứng của chúng chỉ phát sinh với liên kết thứ năm: Lục căn hoặc Nguồn nhận thức.

Đây là một con khỉ trong một ngôi nhà với 6 cửa sổ. Nếu chúng ta có thể nhìn thấy bài viết này, đó là bởi vì có một ý thức thị giác hoạt động qua mắt. Tương tự như vậy, chúng ta 6 ý thức giác quan bao gồm: Xúc giác, thị giác, vị giác, khứu giác, thính giác, và tâm trí. Đây là nguồn dữ liệu cảm quan, nó liên quan đến những tương tác của chúng ta với thế giới bên ngoài.

Khi tôi đặt ngón tay lên bàn phím, xúc giác hoạt động và cho tôi biết là “ngón tay của tôi đang chạm vào bàn phím”, ý thức liên lạc chuyển tiếp này đến ý thức trung tâm để xử lý.

Khi lắp ráp các uẩn vào ảo giác của một cá nhân độc lập, 6 giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, cơ thể và tâm trí) phát sinh sẽ là điều kiện hình thành liên kết tiếp theo, Xúc.


Tái sinh ở giai đoạn thụ thai điều kiện sinh khởi của hiện tượng tâm-thân phát sinh 6 lĩnh vực của giác quan, năm giác quan vật lý và tâm. Do đó, Lục căn là điều kiện phát sinh của tiếp xúc, sự liên lạc giữa các giác quan và đối tượng thích hợp của nó: Mắt-màu sắc, tai-âm thanh, mũi-mùi, lưỡi-hương vị, cơ thể-cảm giác, tâm trí-suy nghĩ.

6. Xúc (Sparsha)

liên kết thứ 6 trong học thuyết mười hai nhân duyên

Một khi Danh Sắc tồn tại và Lục Căn đã được tạo ra, Xúc sẽ hình thành. Sự tiếp xúc này xuất hiện trong mối quan hệ giữa các cơ quan cảm giác với các đối tượng. Liên kết này được miêu tả như là một người đàn ông và phụ nữ nằm cùng nhau.

Xúc là sự tiếp xúc giữa Lục căn với môi trường bên ngoài. Được tạo điều kiện bởi các giác quan, liên lạc xuất hiện. Bởi vì sự tiếp xúc giữa mắt và màu sắc, tai và âm thanh, và các giác quan khác với đối tượng của chúng sẽ phát sinh ra cảm giác. Cảm giác có nghĩa là chất lượng của sự dễ chịu, khó chịu, hoặc trung tính tùy thuộc vào trạng thái của tâm trong từng thời điểm, trong mỗi lần liên lạc.

7. Thọ (Vedana)

liên kết cảm thọ trong thuyết 12 nhân duyên của duyên khởi

Cảm Thọ hay cảm giác xuất hiện khi Danh Sắc có sự tiếp xúc với thế giới bên ngoài thông qua Lục căn. Nó được biểu tượng bởi một người đàn ông với một mũi tên trong mắt của mình, thể hiện các dữ liệu cảm giác xuyên qua giác quan. Cho dù tốt, xấu hay trung tính, tất cả đều có thể trải nghiệm ở các mức độ khác nhau, từ nhẹ đến mạnh. Chúng ta có thể kể đến năm loại Cảm Thọ: Vui, đau đớn, trung tính, hạnh phúc và khổ đau.

Cảm thọ là tiền thân của sự ham muốn và chán ghét, sự dính mắc vào cảm giác dễ chịu hay trốn tránh những cảm giác khó chịu tùy thuộc vào chất lượng tâm của mỗi người.

8. Ái (Trishna)

liên kết thứ 8 trong học thuyết duyên khởi 12 nhân duyên của phật giáo

Khi Cảm thọ xuất hiện, Tham ái sẽ hình thành. Chân lý thứ hai trong Tứ Diệu Đế dạy rằng, Tham ái là nguyên nhân của đau khổ (dukkha). Nếu chúng ta dính mắc, chúng ta sẽ bị lôi kéo bởi mong muốn đó và bị đẩy lùi bởi những điều chúng ta không muốn. Trong trạng thái này, chúng ta vô tình vướng vào các hoạt động tạo thành các hạt giống nghiệp chuẩn bị cho chu kỳ tái sinh tiếp theo.

“Bánh Xe Sự Sống” minh họa Tham ái như một người đàn ông uống bia, thường được bao quanh bằng những chai rỗng. Khi những cảm giác tinh thần được tạo ra thông qua các giác quan, chúng ta sẽ muốn trải nghiệm những thứ dễ chịu, và trốn tránh những thứ khó chịu. Điều này có thể được củng cố thành những mẫu thức thường nhật của chấp trước và ác cảm.


Trong quá trình tái sinh, thai nhi đang lớn dần và bắt đầu cảm nhận được thế giới bên ngoài, những bản nhạc nhẹ nhàng du dương, những tiếng nói của bố mẹ làm cho thai nhi mong muốn được sinh ra.

9. Thủ (Upadana)

liên kết thứ 9 trong học thuyết mười hai nhân duyên

Tham ái là điều kiện dẫn đến Thủ (chấp trước, tham lam…bám víu). Nó được đại diện bởi một con khỉ thu thập trái cây. Một khi chúng ta đã dích mắc vào một cái gì đó (hoặc để tránh cái gì đó), chúng ta sẽ có những bước cụ thể để hành động.

Đó là chuyển động của tâm khi cố gắng chiếm giữ một cái gì đó, cắt đứt một cái gì đó, hoặc đơn giản là để cho một cái gì đó luôn song hành với mình.

Thủ là tâm trí bám víu vào các đối tượng. Chúng ta gắn liền với những khoái cảm, những quan điểm sai lầm và các hình thức bên ngoài. Hầu hết chúng ta bám víu vào ảo tưởng về bản ngã và ý thức về một cá nhân riêng biệt – một cảm giác được củng cố từ những khoảnh khắc thèm khát và nỗi sợ hãi.

Bởi vì chấp trước, chúng ta lại tham gia vào các hành động tạo nghiệp bất thiện, gieo lại những hạt giống trong quá khứ đã tạo ra thức tái sinh trong cuộc sống này.


Đây là nguồn năng lượng tạo ra hạt giống cho thức tái sinh trong kiếp sau. Thủ cũng tượng trưng cho sự bám víu vào tử cung và những thứ giúp thai nhi khỏe mạnh. Đây là điều kiện cho sự khởi đầu của một người.

10. Hữu (Bhava)

liên kết thứ 10 trong thuyết duyên khởi mười hai nhân duyên

Hữu là hiện hữu, có mặt hay trở thành. Trong hệ thống Phật giáo, năng lượng của sự dính mắc giữ chúng ta gắn bó với cuộc sống luân hồi mà chúng ta đã quen thuộc, miễn là chúng ta không thể hoặc không muốn đầu hàng chuỗi nhân duyên. Mô hình hoạt động có chủ ý này sẽ tạo ra hoạt động của nghiệp, điều này đặt ra các nguyên nhân mà những ảnh hưởng của nó trở nên hiển hiện trong cuộc sống hiện tại và tương lai.

Sức mạnh của Hữu là điều kiện thúc đẩy chúng ta dọc theo chu kỳ tái sinh bất tận. Bánh Xe Cuộc Sống minh hoạ Hữu bằng cách hình dung một người phụ nữ đang ở giai đoạn mang thai gần đến ngày sinh.

Hữu là điều kiện dẫn đến liên kết tiếp theo, sự ra đời.

11. Sinh (Jati)

liên kết thứ 11 trong học thuyết mười hai nhân duyên của đạo phật

Nghiệp tích lũy được nhờ tiến trình dẫn đến Sinh. Trong “Bánh Xe Của Sự Sống”, nó được tượng trưng bởi một người phụ nữ sinh con. Hoạt động nghiệp của một người dẫn đến sự tái sinh trong một trạng thái phản ánh phẩm chất của nghiệp đó.

Chữ Sinh trong 12 nhân duyên là dùng để chỉ cho một sinh mệnh mới hội đủ điều kiện sinh ra đời, tiếp tục trưởng thành trong giai đoạn kiếp sống nhân duyên nghiệp báo.

Đây là giai đoạn không thể tránh khỏi của “Bánh Xe Sự Sống”, và các Phật tử tin rằng, trừ khi dây chuyền duyên khởi bị phá vỡ, chúng ta sẽ tiếp tục trải nghiệm sự ra đời vào cùng một chu kỳ.

12. Lão Tử (Jara-maranam)

liên kết thứ 12 trong học thuyết thập nhị nhân duyên
Có Sinh thì phải có Lão Tử. Trong “Bánh Xe Của Sự Sống”, liên kết 12 được đại diện bởi một ông già mang một xác chết trên lưng. Điều này biểu hiện cho sự suy thoái dần dần của cơ thể kể từ lúc sinh ra, với phần bệnh tật và những đau khổ khác nhau.

Khi một người được sinh ra, cái chết là điều không thể tránh khỏi. Tuổi già có thể tránh được bằng cách chết trẻ, nhưng ít người ngu dốt để làm điều này. Sinh ra, già đi, bệnh tật và cái chết là một sự diễn đạt vắng tắt của những vấn đề ảnh hưởng đến sự tồn tại của con người.

Nghiệp của cuộc đời này tạo ra một cuộc đời khác, bắt nguồn từ vô minh, một vòng lặp vô tận nếu như những liên kết tạo nên nó không bị phá vỡ.

Kết Luận

Giáo lý Duyên khởi giúp chúng ta có cái nhìn rõ ràng hơn về cuộc sống, giúp chúng ta hiểu được nguyên nhân của những thành công và thất bại, nguyên nhân của khổ đau và hạnh phúc. Học và thực hành Phật Pháp giúp chúng ta từ từ loại bỏ tấm màn vô minh được tạo ra từ một khởi đầu không thể tránh khỏi.

Chúng ta sẽ biết làm gì để không dích mắc vào sự vô thường của vạn vật. Khi sự cảm thọ và dính mắc bị phá vỡ, chấp trước sẽ không có cơ hội phát sinh. Lúc đó, tâm chúng ta sẽ kinh nghiệm bình an và hạnh phúc mãi mãi trong một thế giới đầy biến động này.

Vấn đề của Đức Phật, và vấn đề của tất cả chúng ta là khám phá ra con đường thoát khỏi chu kỳ điều kiện này. Người ta nói rằng, vào đêm khai sáng của mình, Ngài đã làm ngược lại Luật Duyên khởi để tìm kiếm nơi giải thoát.

Tại sao lại có tuổi già, bệnh tật và cái chết? Do chúng ta được sinh ra. Tại sao chúng ta lại được sinh ra? Bởi vì tất cả các hành động của việc trở thành, tất cả các hoạt động mang tính ý chí được thúc đẩy bởi lòng tham, sân hận và ảo tưởng.

Tại sao chúng ta tham gia vào các hoạt động này? Bởi vì chấp trước. Nhưng tại sao lại có chấp trước? Bởi vì ham muốn trong tâm. Tại sao trong tâm lại có ham muốn? Bởi vì cảm giác, bởi vì chất lượng của sự dễ chịu hoặc khó chịu phát sinh. Tại sao lại có cảm giác? Do tiếp xúc. Tại sao lại có tiếp xúc? Bởi vì các ý thức giác quan xuất hiện khi có tâm-thân.

Nhưng chúng ta không thể làm gì để ngăn cản việc hình thành tâm-thân. Đó là do sự thiếu hiểu biết trong quá khứ từ khi được sinh ra. Vì vậy, không có cách nào để con người tránh tiếp xúc với ngoại cảnh.

Không có cách nào có thể đóng tất cả các cơ quan cảm giác ngay cả khi điều đó là mong muốn. Nếu có tiếp xúc, không có cách nào để ngăn cản cảm giác phát sinh. Do có tiếp xúc, cảm giác sẽ ở đó. Nhưng khi hiểu được lời dạy của Đức Phật, nó có thể bị phá vỡ.

Hiểu rõ giáo lý Duyên khởi, tại sao một điều gì đó phát sinh, chúng ta có thể bắt đầu phá vỡ chuỗi điều kiện của nó. Khi có sự thiếu hiểu biết trong tâm trí, nếu có điều gì đó dễ chịu, chúng ta muốn nó; cái gì đó khó chịu, chúng ta muốn thoát khỏi nó. Nhưng nếu chúng ta thay vô minh bằng sự khôn ngoan, thì chúng ta sẽ giảm dần sự bám víu hoặc trốn tránh các đối tượng.

Khi một cảm giác dễ chịu xuất hiện, chúng ta kinh nghiệm chúng một cách thận trọng mà không bám vào. Nếu điều gì đó khó chịu, chúng ta kinh nghiệm chúng một cách thận trọng mà không lên án. Không còn tình trạng tâm mong muốn mà thay vào đó là chánh niệm, tách rời và buông bỏ. Khi không có ham muốn sẽ không có chấp trước, không có chấp trước, sẽ không có “hoạt động tự nguyện” trở thành.

Nếu chúng ta có thể làm cho một trong các liên kết của mười hai nhân duyên ngừng tồn tại, sẽ không có sự tái sinh, không bệnh, không già, không chết. Chúng ta trở nên tự do, không còn sự hài lòng hay không hài lòng mà thay vào đó là niết bàn.

Mỗi khoảnh khắc nhận thức rõ ràng về lời dạy của Phật đều là một cú đánh mạnh vào các liên kết trong chuỗi mười hai nhân duyên. Sức mạnh đó đến từ trí tuệ, liên kết trở nên yếu và yếu hơn cho đến khi nó vỡ, nhưng phải cần một chánh niệm mạnh mẽ trong từng khoảnh khắc để làm được điều đó.

Theo personal.carthage.edu và tricycle.org