Tìm Hiểu Về Phật Giáo Nguyên Thuỷ – Phật Giáo Nam Tông

phật giáo nguyên thuỷ

Phật giáo Nguyên Thuỷ để chỉ Phật giáo giai đoạn đầu, kể từ khi Tất Đạt Đa sáng lập Phật giáo cho đến trước Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ hai ở thành phố Vaisili. Phật giáo Nguyên Thuỷ phổ biến ở Sri Lanka, Campuchia, Thái Lan, Lào và Miến Điện (Myanmar). Nó còn được gọi là Phật giáo Nam Tông.

Nguồn Gốc Phật Giáo Nguyên Thuỷ

Phật giáo Nguyên Thuỷ (Nam Tông, Theravada Buddhism) là một trong ba nhánh chính của Phật giáo. Hai nhánh còn lại là Phật giáo Đại Thừa (còn gọi là Bắc Tông, Mahayana Buddhism) và Kim Cương Thừa (hay Phật Giáo Mật Tông Tây Tạng).

Phật giáo Nguyên Thuỷ đôi khi được gọi là “Tiểu Thừa” (Lesser Vehicle), ngược lại với “Đại Thừa” (Greater Vehicle). Từ “Tiểu Thừa” có nguồn gốc từ những cuộc phân rã sớm trong cộng đồng Phật giáo, dẫn đến sự xuất hiện cái mà sau này trở thành Đại Thừa. Ngày nay, các học giả của mọi trường phái Phật giáo thường sử dụng thuật ngữ “Tiểu Thừa” nhưng không có ý định xấu.

Ngôn Ngữ

Ngôn ngữ của các văn bản kinh điển trong Phật giáo Nguyên Thuỷ là tiếng Pali, một ngôn ngữ phổ biến ở trung tâm Ấn Độ trong thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Hầu hết các bài thuyết pháp mà Đức Phật giao cho đều được Tôn giả A Nan ghi nhớ. Ngay sau khi Đức Phật qua đời vào khoảng năm 480 TCN, cộng đồng các nhà sư và Tôn Giả A Nan được triệu tập để đọc tất cả các bài thuyết giảng mà họ nghe trong 45 năm giảng dạy của Đức Phật. Mỗi bài giảng ghi lại (sutta) bắt đầu câu, “Tôi đã nghe nói như vậy”. Các giáo lý đã được thông qua trong cộng đồng tu viện bằng hình thức truyền miệng, và Tam Tạng Kinh Điển(tripitaka) ra đời. Vào khoảng năm 100 TCN, Tam Tạng Kinh Điển lần đầu tiên được nhà ngôn ngữ Sinhala viết bằng văn bản ở Sri Lanka.

Tất nhiên, không thể chứng minh rằng Tam Tạng Kinh Điển có chứa những lời thực tế được nói bởi Đức Phật. Tuy nhiên, cho đến nay nó vẫn vẫn tồn tại trong nhiều thế kỷ như một hướng dẫn không thể thiếu đối với hàng triệu Phật tử trong việc tìm kiếm sự giác ngộ.

Quan Điểm Phật Giáo

Phật giáo Nguyên thủy nhấn mạnh đến việc tự giải phóng thông qua những nỗ lực của chính mình. Thiền định và tập trung là những yếu tố quan trọng của con đường dẫn đến sự giác ngộ. Con đường lý tưởng là cống hiến hết cuộc đời trong tu viện.

Với các lý do là: “tránh xa mọi loại ma quỷ, tích lũy mọi điều tốt lành và thanh lọc tâm trí mình”.

Thiền là một trong những phương thức chính mà theo đó một Phật tử Nguyên thủy biến đổi bản thân, vì vậy họ dành rất nhiều thời gian cho việc thiền định. Khi một người đạt được giải thoát khỏi khổ đau và giác ngộ lên Niết bàn, họ được gọi là “người xứng đáng”.

Phật giáo Nguyên Thuỷ nhấn mạnh tầm quan trọng của tu viện. Hầu hết các nhà sư Phật giáo Nguyên Thuỷ thường dành hết thời gian của mình cho tu viện. Một số người tham gia khi mới chỉ 7 tuổi, nhưng có thể tham gia ở mọi lứa tuổi. Một người mới được gọi là samanera và một tu sĩ  được gọi là tỳ kheo. Cộng đồng tu viện như một toàn thể được gọi là Tăng đoàn .

Các nhà sư được đào tạo phải nắm rõ 227 quy tắc . Trong những quy tắc này hay giới luật là năm điều được thực hiện bởi tất cả những người cố gắng tuân theo một lối sống của Phật giáo. Ngũ Giới là thực hiện các quy tắc đào tạo để:

  • Không được làm hại chúng sinh
  • Không được lấy những thứ không được cho phép
  • Kiềm chế hành vi sai trái tình dục
  • Ngăn lời nói sai; Chẳng hạn như nói dối, trò chuyện nhàn rỗi, lời nói độc ác hoặc phát biểu cay nghiệt
  • Ngừa say rượu và ma túy gây say mê

Đặc biệt, các nhà sư trong tu viện không được sử dụng tiền bạc.

Trẻ em tham gia tu tập trong tu viện từ khi còn rất nhỏ. Ảnh Angkorphotographytours

Trẻ em tham gia tu tập trong tu viện từ khi còn rất nhỏ. Ảnh Angkorphotographytours

Giáo Lý Phật Giáo

Hai giáo lý chính trong Phật giáo Nguyên Thuỷ là Tứ Diệu ĐếBát Chánh Đạo. Đức Phật khám phá ra rằng việc được giải phóng khỏi luân hồi đòi hỏi phải phân biệt cho mỗi Tứ Diệu Đế một nhiệm vụ cụ thể: Chân lý cao nhất đầu tiên phải được “thấu hiểu”; Thứ hai là bị “bỏ rơi”; Thứ ba là “nhận ra”; Thứ tư là được “phát triển”. Việc thực hiện đầy đủ chân lý mở đường cho sự giác ngộ: chấm dứt sự thiếu hiểu biết, tham ái, đau khổ và nghiệp lực; Sự thâm nhập trực tiếp vào sự tự do siêu việt và hạnh phúc tối cao là mục tiêu cuối cùng của tất cả các giáo lý của Đức Phật: Vô thường, Vô ngã và Niết bàn.

Bát Chánh Đạo được hiểu như là một bộ sưu tập các phẩm chất cá nhân sẽ được phát triển chứ không phải là một chuỗi các bước dọc theo con đường tuyến tính. Sự phát triển đúng quan điểm và sự giải quyết đúng đắn (các yếu tố được phân loại theo cách cổ điển với sự khôn ngoan và phân biệt) tạo điều kiện phát triển suy nghĩ, hành động và sinh kế đúng đắn (các nhân tố được xác định). Khi đức hạnh phát triển thì các nhân tố được xác định với sự tập trung (đúng sự nỗ lực, chánh niệm, và tập trung). Tương tự như vậy, khi sự tập trung trưởng thành, sự phân biệt sẽ tiến hóa đến một mức độ sâu hơn. Và do đó quá trình này mở ra: sự phát triển của một nhân tố thúc đẩy sự phát triển của nhân tố kế tiếp, nâng người học viên lên một bước tiến về sự trưởng thành tâm linh cuối cùng lên đến đỉnh điểm là giác ngộ.

Những chân lý này không phải là các nguyên tắc giáo điều cố định, những trải nghiệm sống phải được khám phá riêng lẻ trong trái tim của người tìm kiếm tinh thần chân thành.

Hãy Chia Sẽ Thông Tin Này Đến Với Mọi Người

Bình Luận

Ý Kiến Của Bạn Như Thế Nào?

avatar
wpDiscuz