Học Thuyết Vô Ngã Trong Triết Học Phật Giáo

học thuyết vô ngã trong phật giáo

Vô ngã là một học thuyết quan trọng trong Phật giáo, nó giải thích sự không tồn tại của một “bản ngã vĩnh cửu” có thể nhận biết. Khái niệm này dựa trên lời dạy của Đức Phật, và mọi người thường bối rối khi tìm hiểu về học thuyết này. Vì trong các tôn giáo, trường phái tâm lý và triết học khác nhau, cũng như trong ngôn ngữ hàng ngày, từ bản ngã hay “cái tôi” được sử dụng bằng nhiều cách. Khi mọi người nói về “cái tôi” mà không xác định rõ thuật ngữ của chúng, họ có thể vô tình nói về những điều khác nhau.

Vô Ngã Là Gì?

Vô ngã (tiếng phạn: anatman, tiếng Pali: anatta, tiếng anh: no-self) là giáo lý cốt lõi của Phật giáo. Theo học thuyết này, không có “cái tôi hay bản ngã” theo ý nghĩa của một cái gì đó vĩnh cửu, không thể tách rời, tự trị trong một sự tồn tại cá nhân. Những gì chúng ta nghĩ chỉ là bản ngã của chúng ta, “cái tôi” chỉ là một kinh nghiệm tạm thời.

Giáo lý này làm cho Phật giáo khác biệt với các truyền thống tâm linh khác, chẳng hạn như Ấn Độ giáo duy trì rằng (bản ngã cá nhân) Atman, bản ngã vũ trụ (Brahman) và sự tồn tại.

Vô ngã đôi khi bị hiểu nhầm sang nghĩa là không có gì tồn tại, nhưng đây không phải là điều mà Phật giáo dạy. Nó chính xác hơn để nói rằng có sự tồn tại, nhưng chúng ta hiểu nó theo cách một chiều và ảo tưởng. Với vô ngã, mặc dù không có “cái tôi vĩnh cửu” hay linh hồn, nhưng vẫn có cuộc sống sau khi chết, sự tái sinh và kết quả nghiệp báo. Chúng ta phải có cái nhìn sâu sắc từ đó hành động đúng đắn để giải phóng khỏi Vòng luân hồi.

Vô ngã còn là một trong ba dấu ấn (Tam pháp ân) của giáo lý Phật giáo, là yếu tố quan trọng để phát triển sự khôn ngoan và được sử dụng để trải nghiệm Niết bàn, hai dấu ấn còn lại là Vô thường và Đau khổ. Nếu bạn không hiểu về vô ngã, bạn sẽ hiểu lầm hầu hết các lời dạy của Đức Phật. Thật không may, vô ngã là một thuyết khó hiểu nên thường bị bỏ sót hoặc diễn giải sai.

Tất cả chúng ta đều đau khổ khi không tìm thấy sự hài lòng trong thế giới vật chất hoặc trong tâm trí của chúng ta. Chúng ta liên tục trải qua sự thay đổi và chấp trước vào những thứ vô thường, do đó dẫn đến đau khổ.

Nền tảng này, không có “cái tôi vĩnh cửu”, nó là một tập hợp các thành phần trong sự thay đổi liên tục. Sự hiểu biết đúng về ba con dấu này của Phật giáo là một phần của Bát Chánh Đạo.

Ý Nghĩa Của Vô Ngã Trong Phật Giáo

Vô ngã có một ý nghĩa tinh thần rất lớn trong Phật giáo, nó xuất hiện trong bất kỳ thực hành tâm linh nào. Nó vô cùng hữu ích để vượt qua ảo tưởng về nhân cách, bản sắc cá nhân và nuôi dưỡng sự tách rời.

Đó là một cách tuyệt vời để nuôi dưỡng sự thờ ơ đối với những thứ hấp dẫn của cuộc sống và trở nên cân bằng với các cặp đối lập. Cách tốt nhất để nhận ra tầm quan trọng của vô ngã là tập trung vào từng thành phần của cơ thể với sự chú tâm và quán chiếu từng cá nhân và các khía cạnh của cơ thể.

Học thuyết vô ngã cho chúng ta biết rằng, bởi vì chúng ta tin chúng ta là một cái ngã vĩnh cửu và không thay đổi, chúng ta rơi vào bám víu, tham ái, ghen tuông và thù hận…từ đó gây ra bất hạnh, khổ đau.

Bằng cách nhận ra rằng chúng xuất hiện và biến mất như thế nào trong vòng luân hồi sinh tử, trong cuộc đời của một cá nhân, chúng ta sẽ có cái nhìn sâu sắc về Tứ Diệu Ðế và nói với chính mình về sự tồn tại của mình.

Trong Phật Giáo Nguyên Thuỷ

Theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thuỷ (Theravada), sự hiểu biết thật sự về vô ngã chỉ có thể thực hành bởi các nhà sư chứ không phải là cho những người cư sĩ vì nó là trạng thái tâm lý khó đạt được. Nó đòi hỏi phải áp dụng tất cả học thuyết về sự vật và hiện tượng, từ chối “cái tôi” của bất kỳ người nào, và xác định các ví dụ về bản ngã và vô ngã. Trạng thái niết bàn là trạng thái của vô ngã. Tuy nhiên, điều này bị tranh cãi bởi một số người, người ta nói rằng niết bàn thật sự là một “bản ngã siêu việt”.

Trong cuốn sách Những gì Đức Phật giảng dạy”, nhà nghiên cứu Phật giáo Nguyên Thuỷ Walpola Rahula nói,

“Theo lời dạy của Đức Phật, ý tưởng về một bản ngã là một niềm tin tưởng tượng, giả tạo không có thực tại tương ứng, nó tạo ra những tư tưởng độc hại về bản thân, ích kỷ, tham ái, hận thù, bệnh hoạn, các phiền não, tạp chất và các vấn đề khác. “

Các giáo sư nghiên cứu Phật giáo khác, chẳng hạn như Tỳ kheo Thanissaro cho rằng,

“Trong thực tế, nơi mà Đức Phật đã được hỏi về “cái tôi hay bản ngã”, không biết vì lý do gì, Ngài đã từ chối trả lời. Khi được hỏi tại sao, Ngài nói rằng để giữ cho tâm trí tránh rơi vào những hình thức cực đoan của quan điểm sai lầm khiến con đường thực hành Phật giáo trở nên không thể “.

Theo quan điểm này, thậm chí để suy nghĩ về vấn đề liệu một người có hoặc không có “cái tôi” thì sẽ dẫn đến việc nhận dạng với bản thân, hoặc có thể là một sự nhận dạng với chủ nghĩa vô hình. Tốt nhất nên đặt câu hỏi sang một bên và tập trung vào các giáo lý khác, đặc biệt là Tứ Diệu Ðế. Các Tỳ kheo tiếp tục,

“Theo nghĩa này, giáo lý vô ngã không phải là học thuyết về vô ngã, mà là một chiến lược tập luyện cho “bản ngã” rũ bỏ đau khổ bằng cách buông bỏ nguyên nhân của nó, dẫn đến hạnh phúc cao nhất, bất diệt.”

Trong Phật Giáo Đại Thừa

Phật giáo Đại Thừa (Mahayana) dạy một biến thể của Vô ngã được gọi là Tánh không (sunyata). Tất cả sự vật và hiện tượng đều không có bản chất. Học thuyết này có liên quan đến triết học thế kỷ thứ 2 được gọi là Madhyamika, “trường phái trung lưu”, được thành lập bởi nhà thiền thuật Nagarjuna .

Vì không có gì tồn tại, hiện tượng tồn tại chỉ khi chúng liên quan đến các hiện tượng khác. Vì lý do này, theo Madhyamika, không đúng khi nói rằng hiện tượng tồn tại hoặc không tồn tại. Cách trung gian là cách giữa xác nhận và phủ định.

Phật giáo Đại Thừa cũng có liên quan đến học thuyết Phật Tánh . Theo học thuyết này, Phật tánh là bản chất cơ bản của tất cả chúng sinh. Phật tánh là một bản ngã?

Một số người thuộc trường phái Nguyên Thuỷ đôi khi buộc tội các Phật tử Đại Thừa sử dụng Phật tánh như là một cách để lén lút nhân tâm, một linh hồn hay bản ngã vĩnh cửu. Thông thường, Phật tánh là một loại linh hồn lớn mà mọi người đều chia sẻ.

Để thêm vào sự nhầm lẫn, đôi khi Phật tánh được gọi là “bản ngã tự thân” hoặc “chân thật.” Tôi đã nghe nhiều người giải thích Phật tánh như là một “cái tôi to lớn”, và các cá nhân của chúng ta như một “cái tôi nhỏ”, nhưng tôi nghĩ rằng đó là một cách vô ích để hiểu nó.

Các giáo sư Đại Thừa (phần lớn) nói rằng, không đúng khi nghĩ về Phật tánh là một thứ mà chúng ta sở hữu. Thiền sư Eihei Dogen (1200-1253) đã nói rằng Phật tánh là chúng ta, không phải là cái gì chúng ta có.

Trong một cuộc đối thoại nổi tiếng, một nhà sư đã hỏi Thiền sư Chao-chou Ts’ung-shen (778-897) một con chó có bản chất của Đức Phật không?. Câu trả lời của Chao-chou – Mu ! ( Không , hoặc không có ) đã được coi như là một công án bởi các thế hệ người thực hành Thiền định.

Dogen đã viết trong Genjokoan

Nghiên cứu Phật pháp là nghiên cứu bản thân. Để học hỏi nó và tự quên mình. Quên đi “cái tôi” là được giác ngộ bởi 10.000 điều.

Một khi chúng ta điều tra kỹ lưỡng bản thân, “cái tôi” sẽ bị lãng quên. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là bạn sẽ biến mất khi đạt được giác ngộ. Sự khác biệt, như tôi hiểu nó, là chúng ta không còn nhận thức thế giới thông qua một bộ lọc tự tham chiếu.

Nagarjuna thấy rằng ý tưởng về một bản sắc duy nhất dẫn đến niềm tự hào, ích kỷ và sở hữu. Bằng cách phủ nhận “cái tôi”, bạn được giải thoát khỏi những ảo tưởng và chấp nhận sự trống rỗng. Nếu không loại trừ khái niệm về bản thân, bạn vẫn ở trong trạng thái Vô minh và bị bắt trong chu kỳ tái sinh.

Ý Nghĩa Của Vô Ngã Trong Ấn Độ Giáo

Trong Ấn Độ giáo cũng tin rằng tâm trí và thân thể là vô thường và không nên có sự gắn bó với cá tính của con người. Trong sự tìm kiếm chân lý của chúng ta, chúng ta tập trung vào các thành phần khác nhau của tâm và thân và nhận ra rằng cuối cùng chúng không tồn tại. Bằng cách nuôi dưỡng sự tách rời với thế giới bên ngoài, tâm trí và cơ thể của chúng ta, chúng ta đạt đến trạng thái tự hấp thụ.

Như vậy, trong cả Ấn Độ giáo và Phật giáo, những người khát vọng bắt đầu thực hành với cách tiếp cận tương tự để làm tâm trí tĩnh lặng để tiến vào trạng thái bình an và bình tĩnh. Trong nỗ lực này, trong khi Phật giáo không vượt qua sự im lặng của tâm thức, thì tiến trình khổ hạnh Hindu tiến sâu hơn vào cõi siêu nghiệm để tìm ra bản chất thật sự của sự tồn tại. Nói cách khác, họ sẽ kết thúc cuộc tìm kiếm với giấc ngủ sâu.

Người tu hành Hindu vượt xa hơn. Đối với một người theo đạo Hindu, sự chấm dứt của những ham muốn dẫn đến hòa bình tuyệt đối là mục tiêu cuối cùng, một sự kết thúc. Đối với đạo Hindu, việc chấm dứt những ham muốn dẫn đến sự bình tĩnh và sự im lặng hoàn toàn của tâm trí và thân thể là nền tảng để người ta khám phá bản chất thật của bản thân mình và mối quan hệ của một người với Đấng tối cao.

Khái niệm về vô ngã cũng tương tự như lập luận của trường phái Advaita, Ấn Độ giáo rằng, Ngã vũ trụ (Brahman) hay Bản ngã siêu việt (Supreme Self) là một sự thật và mỗi cá nhân là một ảo ảnh đơn thuần chỉ là một phép chiếu của Brahman. Khi một người được giải phóng, quan niệm về cá tính biến mất hoàn toàn khi một người hòa nhập vào Brahman như một giọt mưa rơi xuống đại dương.

Kết Luận

Theo học thuyết vô ngã thì Phật giáo là một tôn giáo vô thần, không có Đấng tối cao hay linh hồn vĩnh cửu, vậy Niết bàn là gì? Phật A Di Đà có phải là một linh hồn vĩnh cửu? Cõi Tây Phương Cực Lạc có tồn tại mãi mãi không? Nếu không có linh hồn thì tái sinh cho cái gì? Nếu không có bản thân, không có bản chất vĩnh viễn của người đó, làm thế nào xác định rõ nguyên nhân để người đó tái sinh vào một trong sáu cõi luân hồi? Các vị Bồ Tát trở lại vòng luân hồi để giúp những người khác, vậy làm sao họ biết mình phải làm gì khi không có “cái tôi hay linh hồn vĩnh cửu”?

Thật khó để tin rằng Đức Phật giới thiệu học thuyết vô ngã mà không hề biết ý nghĩa của nó trong các truyền thống tâm linh khác như đạo Jain và thuyết Brahman của Ấn Độ giáo. Cả hai truyền thống này nhấn mạnh một cách kiên định sự tồn tại của những con người Hindu trong thế giới hiện đại (Hindu Selves) vĩnh cửu, bất biến và không thể hủy diệt.

Đức Phật không bao giờ đề nghị bất cứ bằng chứng xa xưa để khẳng định sự tồn tại của họ. Ngài chỉ nói rõ sự thật rằng, cá thể của chúng sinh tồn tại chừng nào họ còn ở trong Vòng luân hồi. Khi họ đạt Niết bàn, họ đã không còn tồn tại như những cá nhân.

Niết bàn của Đức Phật không phải là để bỏ lại đằng sau vô thường và nhập vĩnh cửu, mà là để thoát khỏi trạng thái phiền muộn và không đáng tin cậy của sự vô thường và những thay đổi của nó. Ngài không gợi ý rằng những người thoát khỏi vòng sinh tử sẽ bước vào một sự hiểu biết về trạng thái thuần khiết của hạnh phúc.

Vấn đề về tái sinh tôi sẽ giải thích theo sự hiểu biết nông cạn của mình, nếu có sai sót mong quý đọc giả góp ý cho. Tôi giả định linh hồn là nước, có nước chảy ngầm dưới lòng đất, có nước chảy trên mặt đất như dòng sông, có nước mặn ở đại dương, có nước ngưng tụ thành thể rắn là tuyết hay đá khi gặp nhiệt độ lạnh…Hơi nước bốc hơi khi gặp nhiệt độ nóng và ngưng tụ khi gặp nhiệt độ lạnh trong khí quyển, một thời gian do quá nhiều giọt nước ngưng tụ nên rơi xuống và tạo thành mưa, quá trình đó gọi là Vòng tuần hoàn nước, và nó lặp đi lập lại khi trái đất còn tồn tại, hoặc không có phản ứng đột biến nào khiến nó thay đổi.

Cơn mưa ngày hôm nay khác cơn mưa ngày hôm qua, cơn mưa của vùng rừng nhiệt đới sẽ khác cơn mưa trong thành thị. Cũng là cơn mưa nhưng mưa ở thành thị chứa nhiều tạp chất xấu hơn cơn mưa ở vùng rừng nhiệt đới, vì nó phải mang theo những chất độc hại như: hoá chất, khói bụi…

Liên hệ với Vòng luân hồi của chúng ta, linh hồn cũng giống như vậy, linh hồn trải qua quá trình tái sinh, hấp thụ những “phản ứng của Luật nhân quả”, linh hồn trở lại theo “vị trí” phù hợp với “trạng thái sau khi hấp thụ”, linh hồn tốt sẽ tái sinh vào cõi tốt, và ngược lại. Vòng luân hồi lặp đi lặp lại như thế, không có “linh hồn vĩnh cửu”, nó thay đổi liên tục trong chu kỳ tái sinh, thay đổi cả khi nó đang tồn tại ở trạng thái con người, động vật hay thần tiên.

Niết bàn, Phật A Di Đà hay Cõi Cực Lạc…là những trạng thái có điều kiện, giống như 1 ly nước, ta đổ nước nóng và lạnh vào, phân tử nước nóng sẽ nổi lên bề mặt, còn phân tử nước lạnh sẽ chìm xuống đáy, nước nóng sẽ vẫn nổi như thế nếu như nó có thể giữ được trạng thái đó. Tôi nghĩ đó là lý do mà Đức Phật nói rằng, không có “cái tôi hay linh hồn vĩnh cửu”, chúng ta phải luôn luôn nghĩ và làm những điều tốt, ngay cả khi đã giác ngộ.

Đức Phật không truyền dạy các môn đệ của Ngài bằng những chi tiết cụ thể, nhưng để giữ cho mọi thứ trở nên cởi mở và không xác định giống như sự tồn tại và để cho họ tự khám phá chân lý. Ngài muốn họ tìm ra bản chất thực sự của trạng thái tồn tại cuối cùng của riêng mình thay vì giải thích nó với họ.

Mỗi người chúng ta đều biết sự thật về bản thân, bằng cách làm dịu tính cách bề mặt của chúng ta để xem liệu có bất kỳ trung tâm cố định nào nằm sâu bên trong hay mọi thứ chỉ là ảo tưởng.

Hãy Chia Sẽ Thông Tin Này Đến Với Mọi Người

Bình Luận

Ý Kiến Của Bạn Như Thế Nào?

avatar
wpDiscuz